Đảo chắn gió

Một trong “Bàn thành tứ hữu” (Những người bạn thành Đồ Bàn) – Quách Tấn, trong cuốn Non nước Bình Định, gọi Cù Lao Xanh là “bức bình phong che gió cho cửa Quy Nhơn”. Ông dẫn một câu thơ cũ: “Cửa giã có hòn án ngoài/ Các lái chạy ngoài gọi hòn Lao Xanh”. 

Một góc Cù Lao Xanh.

“Từ Gia Long trở về trước, đảo này thuộc về Phú Yên. Đến triều Minh Mạng mới cải thuộc Bình Định” (Non nước Bình Định). Đổi qua đổi lại, nên Nhơn Châu (tên của Cù Lao Xanh kể từ khi đất nước thống nhất) cũng lắm nỗi niềm. 

Kỳ 1: Hành trình chờ điện

Hè năm 2014, trên chiếc ghe từ bến Hàm Tử ra Nhơn Châu, đã thấy mấy cậu thanh niên kéo theo mấy chiếc loa thùng, kèm theo những đầu DVD, băng đĩa ra bán cho dân đảo. Dân buôn bán thường nhạy bén với thị trường. Trong lời mời chào qua chiếc loa thùng chỉ cần mở một nửa âm lượng đã vọng cả đảo, người thanh niên bảo rằng: “Sắp có dự án lưới điện về đây, bà con mua thiết bị sẵn mà nghe nhạc, tới lúc có điện mới mua thì sẽ tăng giá đấy, chẳng còn giá ưu đãi nữa đâu”. 

Ngày hôm sau gặp lại ở bến ghe, thấy chồng đĩa trên tay anh bán hàng đã vơi 2/3, mà mấy cái đầu đĩa cũng đã bán xong.

Trước ngày có điện

Từ TP Quy Nhơn, dạo chơi trên bãi biển, chẳng cần tinh mắt lắm cũng thấy Cù Lao Xanh mờ mờ. Thế nhưng đó lại là một hòn đảo biệt lập. Nhơn Châu, dù là đảo án ngữ cửa ngõ ra vào Biển Đông, trên tuyến hàng hải quốc tế gần với cảng biển quốc tế Quy Nhơn, nhưng nhiều năm vẫn hai Không: không điện, không quy chế xã đảo.


Năm 2014, chúng tôi tới Nhơn Châu trên chiếc tàu gỗ khởi hành lúc 1 giờ chiều – một chuyến duy nhất trong ngày. Chuyến tàu trở lại sẽ khởi hành từ đảo lúc 6 giờ sáng. Sau ba tiếng ngật ngưỡng vì say sóng, sau khi mấy người đàn ông lực lượng ra sức kéo dây, chằng buộc, bà chủ ghe tên Lảm cuối cùng vẫn ra hiệu chúng tôi phải vào bờ bằng cách xuống tàu lội bộ một đoạn ngập tới đầu gối. Bà Lảm chỉ tay ra cầu cảng bê-tông cách đó không xa: “Mùa này không vào được hướng đó đâu, lật ghe à”. 

Điện không vì mấy anh bán băng đĩa dẻo mồm mà về đảo sớm. Năm 2014, Nhơn Châu vẫn sử dụng máy phát điện dầu diesel, nhưng chỉ phát hai giờ vào buổi tối.  Thế nên người Nhơn Châu ăn cơm sớm, tranh thủ lúc còn điện, để tránh cảnh tù mù lúc quây quần. Bữa cơm ở nhà anh Phong, Chánh văn phòng UBND xã, có một món cá dầm mắm đặc trưng. Mẹ anh tần ngần vì bữa cơm đạm bạc, phân trần rằng ở đây chợ chỉ có một buổi lúc 9 giờ sáng. Bà bảo tính mua thịt bò mời khách, nhưng mà lúc trưa chúng tôi đến, bà ra chợ thì chợ đã tan rồi, chỉ còn mấy con cá. 

Bữa cơm chiều các gia đình thường ăn sớm, để kịp giờ tắt điện. 7 giờ tối, theo chân anh Phong đi tới những ngư dân có tiếng trên đảo, chúng tôi đều nói chuyện với nhau qua ánh đèn tích điện mờ ảo, ngồi ngoài sân quạt tay nghe tiếng sóng biển dội lại. Thú vui gần như duy nhất là quạt mát và nhậu. Mấy năm sau này, thời gian chạy máy phát điện trên đảo xông xênh hơn, mỗi ngày đảo có 12 tiếng có điện. 23 giờ đêm mới là giờ tắt điện tới 9 giờ sáng hôm sau. Những bữa cơm cũng đỡ vội vàng hơn. Mà tầm chiều tối, mấy cái đầu băng đĩa của những tay bán hàng nhanh nhảu ngày nào cũng có tác dụng. 

Năm 2010, UBND tỉnh Bình Định đã làm hồ sơ trình Bộ Công thương xây dựng tuyến cáp ngầm vượt biển ra với Nhơn Châu. Nhưng tới kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII năm 2013, đại biểu Nguyễn Thanh Thụy (Đoàn ĐBQH Bình Định) vẫn phải đặt câu hỏi: “Vì sao Bộ Công thương chưa bổ sung tuyến cáp ngầm ra xã đảo Nhơn Châu vào Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Bình Định đến năm 2020”. Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ có quyết định công nhận Nhơn Châu là xã đảo. Nhờ là xã đảo, nên ông Phan Văn Binh, Chủ tịch UBND xã mới hồ hởi là Nhơn Châu sẽ đề xuất với thành phố để lập dự án đầu tư xây dựng âu thuyền, kéo điện cáp ngầm từ đất liền ra đảo. Tới tháng 10-2017, Thủ tướng Chính phủ có quyết định về việc phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình “Hỗ trợ chính sách phát triển năng lượng và tăng cường tiếp cận năng lượng bền vững khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo” sử dụng nguồn vốn ODA không hoàn lại do EU tài trợ. Trong đó có dự án kéo điện lưới quốc gia ra xã đảo Nhơn Châu, với tổng số vốn đầu tư 350 tỷ đồng. 

Thế rồi dự án điện ở Cù Lao Xanh cứ lần lượt đổi từ chủ đầu tư là UBND tỉnh Bình Định tới Tổng công ty Điện lực Miền Trung. Mỗi năm các kỳ họp từ trung ương tới địa phương, lại thấy tiếng nói từ cử tri đến đại biểu Nhơn Châu hỏi về điện.  

Mãi tới tháng 10-2020, điện lưới quốc gia mới về tới Cù Lao Xanh. 

Xã đảo mà chưa là xã đảo

Cho tới trước năm 2014, Cù Lao Xanh vẫn chỉ là một xã trực thuộc TP Quy Nhơn, được hưởng chế độ thu hút cho đội ngũ thuộc biên chế cán bộ xã, y tế, giáo dục cũng như các lực lượng vũ trang trên địa bàn theo Nghị định 116/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ – theo một quy chế cho các bãi ngang ven biển. Ngoài lương chính, những người thuộc đối tượng này được hưởng phụ cấp thu hút bằng 70% tiền lương tháng. Tới năm 2016, theo Quyết định số 131/QĐ-TTg, Nhơn Châu – giờ đã là xã đảo – không còn nằm trong diện bãi ngang ven biển và hải đảo nữa, khoản phụ cấp này cũng không còn. Không phải đòi điện, thì giờ hỏi chính sách phụ cấp. Nhiều năm sau ngày lên xã đảo, Nhơn Châu vẫn chưa được hưởng chế độ hỗ trợ nào của diện xã đảo. Mặc dù các quy định về hỗ trợ xã đảo đã có, nhưng riêng “Vấn đề mà cử tri Bình Định nêu là xã đảo Nhơn Châu chưa được hưởng chế độ hỗ trợ của diện xã đảo thì bộ lại chưa đề cập đến”, Trưởng ban Dân nguyện Nguyễn Thanh Hải từng bình luận trong một cuộc gặp cử tri Bình Định năm 2019. Câu chuyện vẫn tiếp tục tới năm 2021, mà lý do chính, theo lời anh Chánh văn phòng UBND xã là do năm 2017 Nhơn Châu đạt chuẩn Nông thôn mới.

Dù sao, Nhơn Châu có điện đã tính là một cuộc đổi đời. Chúng tôi quay lại Nhơn Châu đúng vào đợt nghỉ trăng của dân đi biển, tám năm sau lần đầu đến đảo, thấy nhà nào cũng sắm sửa một bộ giàn karaoke. Ông Quý, người dựng quán trông xe ở dưới chân hải đăng Nhơn Châu hồ hởi mời khách tham dự cuộc hát karaoke gia đình khi đồng hồ vừa chuyển số sang 5 giờ chiều. Ông bảo chúng tôi: “Mời tham dự cuộc vui”. Ông Quý nổi tiếng bởi đắm đuối và am hiểu bài chòi nhất nhì Cù Lao Xanh. Giọng ông ngọt, nên ông ca bolero cũng tình. Mà cả đảo, dễ tới nửa đêm, ngõ ngách nào cũng có tiếng loa hát như thế. Giống như để bù lại cả bao nhiêu năm phập phồng đếm giờ bật tắt công tắc điện. Đó đúng là cuộc vui mà mỗi người dân vẫn đang dạt dào cảm xúc. Bà Lý, người phụ nữ từng có sáu năm xa đảo làm thuê, vừa nghe đảo có điện là về, bởi: “Có cái khách sạn mới xây, giờ có điện đón khách du lịch, nên tôi về đây có việc làm, lại gần nhà”. 

Kỳ 2: Biển chờ

Nghỉ trăng, đàn ông Cù Lao Xanh uống rượu, đàn bà ngồi tán gẫu. Nhưng cũng chẳng phải vì nghỉ trăng, vì năm nay biển đói. Bà Huỳnh Thị Dân ngó ra chiếc ghe đậu xa xa của gia đình, lắc đầu: “Biển thấy càng ngày càng cạn kiệt. Mấy năm trước đi suốt, tới chiều 30 mới về rồi xách đồ cúng. Đón Giao thừa xong là tôi lấy xô cá vào đất liền bán. Năm nay thì nghỉ rồi, vì không có cá”.

Hiện giờ một ngày đã có nhiều chuyến cano từ đất liền ra đảo.

Đàn bà đi lựa

Ở Cù Lao Xanh, người ta gọi đi biển là đi lựa. Đàn bà đi lựa như bà Dân hiếm lắm, nếu không nói là gần như duy nhất.  Từ quê Phú Yên về làm dâu Cù Lao Xanh đã 27 năm, nhưng cũng hơn 20 năm bà theo chồng – ông Nguyễn Văn Hiền – lên tàu ra biển. Cũng đánh đông dẹp bắc khắp Biển Đông, ngắn thì sáng đi chiều về, dài thì 10 ngày đến một vài tháng. “Ổng kêu được bạn thì tôi ở nhà, mà không kêu được bạn thì đi”, bà Dân kể về lý do đi biển trái khoáy. Dân đi biển vốn kiêng phụ nữ lên tàu, nhưng ở đất Quy Nhơn, những người đàn bà lênh đênh sóng nước hóa ra chỗ nào cũng gặp. Không phải vì bà ham biển, mà vì mỗi ngày kiếm bạn đi biển mỗi khó. “Giờ kiếm được 3 – 4 người là mừng, mà có 3 – 4 người thì tôi vẫn phải đi đó”, bà cười. Dân Cù Lao Xanh sống nhờ biển, không đi biển biết lấy gì ăn khi mà đảo gần bờ đấy mà gần như biệt lập. Mấy năm gần đây, bà lại càng phải đi nhiều, dù cậu con trai lớn lên cũng đã theo nghề biển của cả nhà. “Kêu bạn giờ khó lắm. Nhà nào còn đi biển thì họ tự đi chứ không đi cùng nhau như xưa nữa”, bà bảo.  Năm ngoái tới giờ, bà cũng theo chồng đi miết từ tháng 7 tới tận tháng Giêng. 

Người hàng xóm ngồi cạnh bà Dân, chép miệng: “Bả đi giờ như đàn ông vậy đó”, đến nỗi chòm xóm phải gọi bà là “ông Dân”. Bà chỉ đang phiền lòng là: “Mùa này mấy năm trước no lắm, biển cá đủ lại hết. Nhưng hai năm nay biển mực cá hết. Đâu biết tại sao. Xưa có cá hố, cá rựa. Mấy năm nay toàn cá rác, con mực cũng hiếm”. Thời kỳ dư dả nhất là những năm 2012 – 2013, cũng đủ để ông bà nuôi ba đứa con khôn lớn. Thời đó bụng bầu vượt mặt, nói như chính chủ là “bụng thè lè” mà “ông Dân” vẫn liều lên thuyền, chỉ chịu về bờ lúc chỉ cách ngày dự sinh gần tháng. Cuối những năm 90, chưa có điện thoại di động, nhà cũng chẳng gắn điện thoại bàn, ông bà đi biền biệt, cậu con trai cứ bắc ghế trèo lên ban công hướng ra biển ngóng mẹ về. Con cái hầu như gửi gắm nhà nội trông nom. Chị chồng bà bảo thương chảy nước mắt. Nhưng nghề biển là vậy. “Có sóng có gió chứ mà cũng ráng đi mới có tiền nuôi con mà. Con nó nhớ nó khóc mà mình về không được ráng chịu. Thi thoảng về hai ba ngày rồi lại đi tiếp”, bà Dân tư lự. 

Năm 2014, cả đảo có 127 phương tiện tàu thuyền có động cơ. Nhưng ngay cả thời điểm năm 2014, những bỏ ngỏ về nghề cá cũng đã thường trực trong câu chuyện của những ngư dân. Anh Phong, Chánh văn phòng UBND xã bảo có những chuyến đi cả tháng mà về trừ đi chi phí mỗi người chỉ được lãi 600 nghìn tới một triệu đồng. Một nhóm bạn, vốn đi biển quen với nhau nhiều năm, khi anh Phong dẫn chúng tôi đến cũng đang âu lo về những luồng cá ngày một cạn. Họ đã không còn đánh cá xa bờ từ lâu lắm, chỉ còn quanh quẩn vài tiếng với cá cơm, như một thú vui cho đỡ nhớ biển mà thôi. Năm 2021, theo thống kê mới nhất, Nhơn Châu chỉ còn lại 61 ghe thuyền có động cơ. Bà con chuyển sang thuyền thúng composite, bắt tạm cá rác trong ngày. 

Ngó ra bãi ghe trước mắt, bà Dân thở dài: “Giờ đổ tới lui cá cũng hiếm. Nhiều nhà bán thuyền vì thu hoạch không đủ tiền chi”. Giữ được cả ba đứa con ở lại đảo làm nghề biển như nhà bà cũng là hiếm lắm. 

Khoản, anh thanh niên 30 tuổi, cũng đã phải bán chiếc ghe ba anh để lại. Khoản đi biển từ nhỏ, nghề giỏi nhất là nghề biển, nhưng anh cũng chỉ duy trì được vài năm sau khi ba mất, vì không rủ được người đi biển cùng. “Người ta đi biển có đôi”, làm gì có ai một mình giong buồm được. Khoản đi làm cho các ông chủ khác, theo tàu ra tận Trường Sa, Hoàng Sa. Cũng có lúc chạnh lòng vì từ vị trí chủ ghe, thành đi làm thuê, nhưng anh bảo không khác được.

Nhà anh Lê Văn Dưỡng coi như có ghe to nhất nhì đảo, nhưng lâu lâu nay cũng chỉ đi biển gần. Ghe nhà anh Dưỡng lúc mua đã chừng 500 – 600 triệu đồng. “Mỗi năm tu bổ hai lần, mỗi lần cũng mất 70 – 80 triệu đồng”, vợ anh Dưỡng nhẩm tính. Tốn kém thế nhưng cá thu về đợt này kém. “Xưa mình đánh cá còn mang ra tận Quy Nhơn bán. Giờ cả chợ đảo này cũng hiếm cá. Mua cá cơm cũng không có. Toàn cá rác thôi”, vợ anh Dưỡng thở dài. 

Cũng không nói đâu xa, chị Lý nói muốn ăn hải sản ở đảo phải đặt trước, các công ty du lịch họ chuẩn bị, chứ ra chợ đảo thì không có sẵn đâu: “Có mực, cá thu là chính. Cũng không nhiều”. 

Giữa bốn bề mênh mông nước biển, nhưng lựa chọn hải sản lại ngày một thu hẹp đáng kể. Những cuộc chia tay biển, mỗi lúc một nhiều hơn. 

Đảo mới

Bà Dân đang bảo lo đứa con trai tìm vợ. Năm xưa chồng bà nhân nghỉ trăng mà về bờ đi xem hát, rồi gặp và cưới bà. Nhưng ở đảo bây giờ, con trai khó kiếm vợ. “Đa số con gái ở đây nó đi ra bờ nó làm, lấy chồng xa không à, có thanh niên ở nhà giữ đảo không hà. Con trai mình chưa lấy vợ sao không lo, bữa nay con gái hiếm mà con trai dư mà”, bà cười xòa, “Giờ xấu tốt cũng kiếm đứa con dâu chứ. Con gái ở đây kén lắm”. Anh Dưỡng cũng phải tới khi nhờ người quen mai mối mới gặp được người vợ bây giờ, bởi nghề lênh đênh ngày tháng, chẳng gặp được đối tượng nào lâu dài.

Có điều đảo từ khi có điện đã vui hơn trước. Ngoài tiếng karaoke bù những ngày chưa có điện, nhiều công trình mới đã mọc lên. Năm 2014, xã có khoảng hơn 2.000 hộ dân, với hơn 7.000 nhân khẩu. Từ năm 2000 đến 2013, đã có hơn 500 nhân khẩu do điều kiện quá khó khăn bỏ đảo chuyển vào đất liền sinh sống. Năm 2021, toàn xã Nhơn Châu có khoảng 564 hộ, với khoảng 2.300 nhân khẩu. Giảm dân số âu cũng là câu chuyện thường thấy ở những hòn đảo nhỏ. Nhưng Nhơn Châu không còn biệt lập nữa. Ngoài tàu gỗ, cano chở khách ra đảo đã chuyên nghiệp hóa mỗi ngày 4 – 5 chuyến. Những khách sạn, homestay đã lục tục mọc lên, cả những người nơi khác đến tìm kiếm cơ hội đầu tư.

Một lớp trẻ bắt đầu ở lại đảo, thay vì đi về bờ tìm kiếm cơ hội khác. Như anh ngư dân tên Khoản bảo, anh ở lại đảo vì không có ai trông nom mẹ. Ngoài đi biển, anh có thêm thu nhập từ việc đưa khách du lịch đi lặn ngắm san hô. Dù công việc dẫn khách đi tour cũng đổ mồ hôi chẳng kém những chuyến ra khơi. Anh cũng đang học cách chụp ảnh đẹp, học hỏi dần cách nói chuyện để giới thiệu du lịch: “Mình không giỏi ăn nói như hướng dẫn viên ngoài bờ, cũng khó lắm”. Bù lại, Khoản giỏi bơi lặn và am hiểu hiếm có về vùng biển mình sinh ra và lớn lên. 

Nhiều công ty du lịch đã tìm đến Cù Lao Xanh, nhanh chóng tạo ra các tuyến điểm hấp dẫn. Mấy năm trước, trong một tọa đàm du lịch, khi đặt vấn đề tại sao không khai thác tuyến Cù Lao Xanh, giám đốc một công ty du lịch miền trung tần ngần rằng đảo đó không có bãi cát: “Đưa khách ra đảo mà không có chỗ cho họ tắm biển thì họ không đi đâu”. Ông giám đốc nuối tiếc dải cát trắng phau đẹp rực rỡ của Cù Lao Xanh hơn chục năm trước, khi mà những thay đổi từ cả thiên nhiên lẫn con người chưa biến, chưa tác động đến hòn đảo này. Nhưng sự đã rồi, dải cát không thể hồi sinh. Có điều, sau nhiều năm, những điểm check-in mới đã hình thành, cũng có cả những doi cát mới, đủ để người ta ngắm san hô, bơi lặn, chụp ảnh cho hành trình một ngày dã ngoại. 

Buổi chiều ở Cù Lao Xanh, biển trong veo. Những đứa trẻ thoải mái lặn ngụp, bật tanh tách trong làn nước. Chợ Cù Lao Xanh lúc ba giờ, mùa này cũng không mấy xôn xao. Nghe đâu những bữa ăn thịnh soạn cho khách du lịch đều do các công ty đặt và chuẩn bị trước cả. Chứ trên đảo cũng chưa có nhà hàng nào.

Những chiếc ghe vẫn nằm yên lặng ngoài xa, chờ một mùa cá nào đó để lại được vươn khơi. Quách Tấn từng viết cửa Quy Nhơn là nơi chứng kiến bao cuộc hưng vong trong lịch sử, há gì mà hòn đảo chắn gió trước mỗi dâu bể kia, lại bớt đi được thăng trầm?

Trong Đại Nam nhất thống chí có chép: “Hòn Thanh Châu thuộc thôn Chánh Thành ở phía nam huyện, tục gọi là Cù Lao trấn sơn của biển Thị Nại, đầu đời Gia Long thuộc huyện Đồng Xuân, đạo Phú Yên, đến giữa năm Minh Mệnh đổi lệ vào huyện Tuy Phước”.  Thanh Châu là tên cũ của một cụm dân cư ở Cù Lao Xanh. Sau ngày thống nhất đất nước, Cù Lao Xanh có tên là Nhơn Châu (TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định). Hòn đảo nằm phía đông nam đèo Cù Mông, chỉ cách TP Quy Nhơn chừng 17 cây số. Trên đảo có ngọn hải đăng được người Pháp xây dựng từ năm 1890.

Theo những tài liệu hàng hải, từ cách đây 4-5 thế kỷ, địa danh này được ghi trên bản đồ là Poulo Gambir. Trong một số tài liệu địa lý, người Pháp miêu tả hòn đảo là “Ile Verte” (đúng như tên Cù Lao Xanh). 

Nguồn: https://nhandan.vn/baothoinay-xahoi-phongsu/dao-chan-gio-650814/ và https://nhandan.vn/baothoinay-xahoi-phongsu/dao-chan-gio-651213/

, ,

Trả lời